I. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG.
Năm 1925 – 1926 Tham gia phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên Hà Nội; được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, tham gia lớp đào tạo huấn luyện cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc.
Năm 1927 – 1929 Về nước tiếp tục hoạt động cách mạng, chủ yếu là ở địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn và một số tỉnh Nam Kỳ. Tháng 02/1929, dự Đại hội Kỳ bộ Nam Kỳ, được bầu làm Bí thư Kỳ bộ; tháng 5/1929, Trưởng đoàn đại biểu Kỳ bộ Nam Kỳ dự Đại hội đại biểu lần thứ nhất Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tại Hồng Kông, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên; tháng 7/1929, bị thực dân Pháp bắt kết án 10 năm tù, giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Tháng 11/1929, đảng viên An Nam Cộng sản Đảng.
Tháng 7/1930, đồng chí Phạm Văn Đồng bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo. Tháng 7/1936, được trả tự do; đầu năm 1937, đồng chí ra Hà Nội tham gia hoạt động cách mạng công khai. Tháng 5/1940, đồng chí sang Côn Minh, Trung Quốc hoạt động cách mạng và liên lạc được với đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tham gia hoạt động cách mạng ở Liễu Châu và Tĩnh Tây, Trung Quốc. Tháng 5/1941 - 4/1945 đồng chí về nước hoạt động cách mạng; tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng Việt Bắc.
Tháng 5/1945 Hoạt động cách mạng tại Tuyên Quang; tham gia thành lập Khu giải phóng. Dự Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương và Đại hội Quốc dân Tân Trào, được cử vào Ban Thường trực Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tham gia Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết.
Tháng 3/1946, đồng chí là Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội; tháng 4/1946, là Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang thăm thân thiện nước Pháp; tháng 5/1946, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán chính thức với đoàn đại biểu Chính phủ Pháp tại Hội nghị Phôngtennơblô (Pháp); tháng 11/1946, là Đặc phái viên của Chính phủ chỉ đạo chiến trường Nam Trung Bộ. Tháng 01/1947, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo Nam Trung Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1949 – 1950 Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao.
Năm 1951 – 1987 Từ năm 1951 - 1976, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam; từ năm 1976 - 1986, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1954 - 8/1955, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; từ tháng 9/1955 - 1957, Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng; từ năm 1957 - 6/1987, Thủ tướng Chính phủ kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng.
Từ tháng 12/1986 - 12/1997 đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VI, VII, VIII.
II. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG TRONG THỜI GIAN Ở TUYÊN QUANG ( NĂM 1945 VÀ GIAI ĐOẠN 1949 - 1954)
Tháng 6/1945, đồng chí Phạm Văn Đồng ở, làm việc tại xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Đồng chí tham gia thành lập Khu giải phóng; giảng dạy tại Trường quân chính kháng Nhật mở tại Khuổi Kịch, thôn Tân Lập, xã Tân Trào; gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 14,15/8/1945, đồng chí tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng tại xã Tân Trào. Dự Hội nghị có đại biểu các đảng bộ địa phương trong nước, một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài, đại biểu của Khu giải phóng và các chiến khu. Hội nghị nhất trí: Thống nhất phát động và lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền; đề ra nguyên tắc để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong Tổng khởi nghĩa.
Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16 và ngày 17/8/1945 đồng chí Phạm Văn Đồng dự Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào. Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh. Đại hội quy định Quốc ca, Quốc kỳ của nước Việt Nam mới. Đại hội bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam gồm 15 người do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Phạm Văn Đồng được bầu vào Ban Thường trực thuộc Ủy ban giải phóng dân tộc.
Ngày 19/8/1945 khởi nghĩa giành chính quyền thành công ở Hà Nội, công việc yêu cầu càng khẩn trương hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Hoàng Văn Thái và một số đồng chí khác đã có cuộc trao đổi về việc chuẩn bị về Hà Nội, việc cử người ở lại giúp chính quyền địa phương và đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang củng cố, bảo vệ căn cứ địa dự phòng những biến động có thể xảy ra. Đồng chí Phạm Văn Đồng được cử ở lại hực hiện công việc quan trọng này. Sau khi khẩn trương hoàn thành công việc, đồng chí Phạm Văn Đồng từ Tân Trào về thủ đô Hà Nội.
Tháng 02/1949, sau hơn hai năm làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng được Trung ương Đảng điều ra Việt Bắc để nhận công tác mới, đồng chí được bổ sung là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Từ cuối tháng 7/1949 đến tháng 9/1950, đồng chí Phạm Văn Đồng ở và làm việc tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên ( nay là Xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang). Ngày 25/7/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Phạm Văn Đồng giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; ngày 02/8/1949, đồng chí được cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Tại đây, đồng chí đã tham gia nhiều cuộc họp quan trọng của Chính phủ để đánh giá tình hình trong nước và thế giới, quyết định nhiều vấn đề quan trọng về đường lối kháng chiến kiến quốc.
Năm 1949 và đầu năm 1950 tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Nhận định rõ tình hình, chủ động trước những diễn biến mới, từ ngày 21/01 đến ngày 03/02/1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã họp để thảo luận, nghiên cứu và đề ra những chủ trương, biện pháp đưa cuộc kháng chiến lên bước phát triển mới. Hội nghị đã ra Nghị quyết về việc chuyển mạnh sang tổng phản công, những nhiệm vụ công tác lớn và cần kíp về mọi mặt, trọng tâm là tăng cường xây dựng quân đội, đẩy mạnh tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng; củng cố hậu phương, căn cứ của ta; củng cố chính quyền dân chủ nhân dân; động viên thi đua ái quốc; tăng cường củng cố xây dựng Đảng... Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng trình bày báo cáo Phải kiện toàn chính quyền nhân dân để tổng phản công và kiến thiết chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam. Báo cáo đã khái quát một số nội dung về vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân và nhấn mạnh vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng cầm quyền trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Báo cáo khẳng định rõ: Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam ngày nay là một nhà nước cộng hòa nhân dân. “Đảng ta là một đảng chấp chính. Đảng ta phải dùng chính quyền và bộ máy chính quyền để thực hiện chính sách của Đảng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các cấp ủy, của các cán bộ, của toàn thể đảng viên. Đảng ta có sự phân công tất nhiên và cần thiết theo các ngành quân, dân, chính, đảng, nhưng phân công để chia nhau phụ trách nhiệm vụ nói trên, phân công để phối hợp”. Những quan điểm trong báo cáo của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất cụ thể, chính xác, tới nay vẫn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Năm 1950, Văn phòng Chủ tịch Phủ, Thủ tướng Phủ chuyển đến ở và làm việc tại Bản Tai, xã Kiên Đài, tỉnh Tuyên Quang. Trong thời gian làm việc ở đây, đồng chí Phạm Văn Đồng đã hoàn thiện báo cáo mấy vấn đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam để trình bày tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng.
Từ giữa tháng 01/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ương Đảng và Chính phủ đã ở và làm việc tại thôn Bó Củng, xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang ) để chuẩn bị tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Từ ngày 11 đến ngày 19/02/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang). Tại Đại hội, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày báo cáo mấy vấn đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam. Khi đó đồng chí Phạm Văn Đồng được Đại hội bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; được phân công làm Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, Trưởng ban Kinh tế - tài chính, Trưởng Tiểu ban Miên - Lào, thành viên Ban Tuyên huấn Trung ương.
Ngày 11/3/1951, tại Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được bầu vào Uỷ ban Liên minh nhân dân Việt -Miên - Lào.
Từ tháng 5/1951, đồng chí Phạm Văn Đồng trở lại Thủ tướng Phủ ở thác Dẫng, thôn Lập Binh, xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang sau đó chuyển đến ở thôn Thia, xã Tân Trào, đến cuối năm 1953. Đầu năm 1954, đồng chí chuyển đến ở, làm việc tại thôn Làng Nhà, xã Kim Quan, ( nay là Xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang ).
Ngày 02/9/1951, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 6 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết bài đăng trên báo Nhân dân quán triệt việc kiện toàn bộ máy chính quyền phải thể hiện rõ ở các công tác lớn như:
1. Chấn chỉnh và kiện toàn bộ máy chính quyền đúng với nguyên tắc tập trung dân chủ.
2. Chấn chỉnh bộ máy và lề lối làm việc của cấp xã.
3. Kiên quyết chống bệnh quan liêu.
Trong một số bài nói, bài viết như: Mấy vấn đề cấp bách về kinh tế - tài chính; Mấy công tác lớn năm 1951; Bàn về kế hoạch sản xuất và tiết kiệm; Báo cáo tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ kiểm điểm công tác 6 tháng cuối năm 1952; Tham luận tại Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc... đồng chí Phạm Văn Đồng đã cụ thể hóa một số công việc cấp bách tác kinh tế - tài chính như thực hiện tăng thu, giảm chi, thống nhất - chi của các cơ quan…
Đầu năm 1953, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết, định mở cuộc vận động phóng tay phát động quần chúng triệt để thực hiện giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất. Đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Chính phủ phân công chuẩn bị và là một trong những người trực tiếp chỉ đạo cuộc vận động này. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV (khóa II, tháng 01/1953), đồng chí đã trình bày dự thảo báo cáo Cương lĩnh về chính sách ruộng đất của Đảng. Dự thảo được Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V (tháng 11/1953) thảo luận, bổ sung và trở thành Cương lĩnh ruộng đất của Đảng.
Đầu tháng 3/1953, tại cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng trình bày báo cáo Mục đích, phương châm, kế hoạch phát động quần chúng và nhiệm vụ của chính quyền trong phát động quần chúng. Cuộc họp đã thảo luận, bổ sung và thông qua báo cáo, cụ thể hóa trong các văn bản về chính sách ruộng đất của Đảng, về phát động quần chúng và trình Quốc hội. Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I (tháng 12/1953), đồng chí Phạm Văn Đồng đã trình bày dự thảo Luật Cải cách ruộng đất được Quốc hội thảo luận, bổ sung và biểu quyết thông qua. Cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng chí đã tham gia một số lớp tập huấn cán bộ làm công tác cải cách ruộng đất.
Để bảo đảm các điều kiện cho chiến trường, tháng 6/1953, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng là Chủ tịch. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo huy động tối đa sức người, sức của cho các trận đánh lớn trên các chiến trường Đông - Xuân 1953 -1954. Sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và công tác hậu cần đã tạo thuận lợi để Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu triển khai kế hoạch tác chiến trên chiến trường chính Bắc Bộ, chiến trường Lào và Đông Bắc Campuchia.
Những thắng lợi trên mặt trận quân sự làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh ngoại giao, buộc thực dân Pháp phải đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ. Tháng 3/1954, từ xã Kim Quan, ( nay là xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang), Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi dự Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình trên bán đảo Đông Dương. Sau 75 ngày làm việc căng thẳng, đêm ngày 20, rạng sáng ngày 21/7/1954, Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã giành thắng lợi.


